PGS.TS
Nguyễn Thừa Hỷ
Vấn
đề đã được đặt ra nghiên cứu từ hơn nửa thế kỷ qua và đã được thảo luận, tranh
cãi nhiều trong giới các nhà sử học. Tuy nhiên, như Engels nói, lịch sử luôn
luôn cần phải viết lại. Thời nào cũng vậy, ôn cũ chính là để biết mới. Do
vậy, những sự “phát hiện lại” lịch sử sẽ là điều không bao giờ thừa.
Lịch
sử vốn là phức tạp, khó nắm bắt. Một thực thể lịch sử luôn vừa là nó, vừa là
cái khác nó. Những thể chế chính trị theo dòng thời gian, đã tồn tại trong những
chu kỳ sinh-trụ-dị-diệt, trải qua những vận hội hưng vong, quá trình tha hoá và
trượt đẩy (dérapage). Trong lịch sử, những thể chế đó thường trải qua ba giai
đoạn kế tiếp: đã là một nhu cầu lịch sử nhưng chưa phải là hiện thực, nhu cầu
đó trở thành hiện thực lịch sử, vẫn tồn tại như một thực tế lịch sử nhưng không
còn là nhu cầu nữa. Edgar Morin đã nhắc nhở chúng ta cần phải biết tư duy cái
phức. Một chế độ xã hội bao giờ cũng mang trong mình nó những nhân tố tích cực
pha trộn với những nhân tố tiêu cực. Tuỳ lúc nó có thể là lực đẩy hoặc lực cản
đối với sự phát triển của lịch sử. Chế độ phong kiến Việt Nam trong thời trung
đại cũng chính là một trường hợp như thế.
Việt
Nam vốn là một nước nhỏ. Cái mạnh của văn hoá Việt Nam không phải ở chỗ đã khởi
xướng, phát minh mà là ở khả năng thích ứng và biến hoá. Chế độ phong kiến Việt
Nam với thiết chế quân chủ tập quyền là một mô hình ngoại nhập từ Trung Hoa, với
nền văn hoá Đông Á, dưới hình thức cưỡng bức và tự nguyện. Mặt khác, chế độ đó đã
được chỉnh sửa, đẽo gọt, thu nhỏ kích cỡ cho phù hợp với những điều kiện cụ thể,
đặc thù của lịch sử, xã hội Việt Nam, vốn có một cơ tầng văn hoá Đông Nam Á. Đó
là một hạt giống ngoại sinh, được gieo trồng và đơm hoa kết trái trên một mảnh
đất và trong một khí hậu nội sinh.
Từ
đó, đã nẩy sinh và tồn tại một độ chênh lịch sử giữa phiên bản và nguyên bản.
Trước hết, đó là độ chênh về thời gian tương ứng. Xưa kia, sự thẩm thấu văn hoá
xuyên quốc gia thường diễn ra rất chậm chạp, có khi trải qua hàng thế kỷ. Hơn nữa
các nhà cầm quyền lại ưa thích noi gương đời xưa theo tinh thần “tín nhi hiếu cổ”.
Vì vậy những nho gia thời Lý - Trần thường hay viện dẫn, tán tụng các tư tưởng,
nhân vật Trung Hoa thời Hán - Đường. Vua quan thời Lê - Nguyễn lại thường học tập,
mô phỏng các thiết chế chính trị, luật pháp thời Tống - Minh. Điều đó đã dẫn đến
một sự do dự, thiếu cập nhật, chậm trễ lịch sử trong việc nhận thức, hoạch định
các chính sách cùng việc tiếp thu, quyết đoán những đổi mới, cải cách trước những
thời cơ, vận hội lịch sử, ngay cả so với chính nguyên mẫu nước láng giềng Trung
Hoa.
Một
biến cách khác là độ chênh về sắc thái chính thống. Mô hình thiết chế quân chủ
tập quyền và hệ tư tưởng nho giáo Trung Hoa khi du nhập và phát triển ở mảnh đất
Việt Nam, tất yếu và mặc nhiên đã bị biến thái, phai nhạt, lai tạp đi nhiều so
với nguyên bản của nó ở quê hương Trung Hoa. Điều đó càng được khẳng định một
khi nền văn hoá khởi thuỷ của Việt Nam đã dựa trên cơ tầng Đông Nam Á với nền tảng
tư tưởng của Phật giáo và các tín ngưỡng dân gian, có vai trò đối trọng với hệ
tư tưởng Nho giáo chính thống. Xưa kia, vua Trần Nghệ Tông đã đưa ra nhận xét:
“Nam và Bắc bên nào cũng có vua nước ấy làm chủ, không cần bắt chước nhau”. Còn
Nguyễn Trãi thì trịnh trọng tuyên bố: “Núi sông bờ cõi đã chia, phong tục Bắc
Nam cũng khác”.
Các
nhà nghiên cứu thời nay thì bàn nhiều đến độ chênh lịch sử văn hoá đó thông qua
các khái niệm “tiếp biến văn hoá”, “khúc xạ văn hoá”. Chịu ảnh hưởng và tiếp
thu những thành tựu của một trung tâm văn hoá lớn như Trung Hoa, thích ứng và cải
biến theo những điều kiện cụ thể của Việt Nam, đó là chuyện rất bình thường và
cũng đáng để tự hào về bản lĩnh dân tộc rồi. Không cần thiết và cũng chẳng thêm
hay gì khi chúng ta cố tình lớn tiếng, đề cao một “chế độ phong kiến”, một “thể
chế quân chủ tập quyền, hoặc một Nho giáo độc đáo riêng của Việt Nam.
Trên thực tế, những thiết chế chính trị, xã hội đó ở Trung Hoa cũng như ở Việt
Nam đã có những nét cơ bản chung, rất giống nhau. Sự khác biệt chỉ là những tiểu
dị trong đại đồng. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại, đó chỉ là những dạng của chế
độ phong kiến, thể chế quân chủ tập quyền, hệ tư tưởng Nho giáo “mang màu sắc
Trung Hoa” hoặc “màu sắc Việt Nam” mà thôi.
Trong
lịch sử cũng có những nhà vua Việt Nam nhiều năng lực và ý chí, tỏ ra rất nhiệt
tình xây dựng và bảo vệ những mô hình thiết chế chính trị và hệ tư tưởng mang
tính chính thống. Lê Thánh Tông muốn noi gương Hán Cao Tổ và Đường Thái Tông, đến
lượt Minh Mệnh muốn noi gương Lê Thánh Tông. Cả hai vị vua đó đều tỏ ra “sùng
Nho trọng Đạo”, “tuân kinh sử”, “pháp điển mô”, muốn lấy Nho giáo chính thống
làm nguyên tắc tối cao và lá bùa hộ mệnh để xây dựng và bảo vệ chế độ, vương
triều. Thậm chí vua Minh Mệnh còn tỏ ra rất tự hào rằng Nho giáo của vương triều
mình là chính thống và vượt trội hơn cả Nho giáo Trung Hoa đương thời, vì nó đã
được đúc rút ra từ những sách vở kinh điển, nguyên bản, trong khi Nho giáo
Trung Hoa lúc đó đã bị biến chất và vận dụng sai lạc đi bởi ngoại tộc Mãn
Thanh(!!).
Sai
lầm cơ bản của những nhà vua sùng tín này là cho dù xuất phát từ một ý định tốt,
đã cố tình gò ép cái thực thể sinh động của đời sống xã hội vào mô hình cứng nhắc
của những thiết chế chính trị và tư tưởng đã có sẵn, được xem là khuôn mẫu bất
biến, chẳng khác gì những khung sắt của chiếc giường Procruste[1] oan nghiệt
nổi tiếng.
Kết
quả là cả một vương triều thịnh trị Lê sơ đã mau chóng sụp đổ đúng 30 năm sau
cái chết của nhà vua Lê Thánh Tông. Và vua Minh Mệnh - một Lê Thánh Tông cỡ nhỏ
và trái mùa - thì đã thất bại trong việc đụng độ và ngăn chặn âm mưu xâm lược của
tư bản phương Tây - lúc này là thực dân Pháp - đang kéo đến dòm ngó Việt Nam.
Về
mặt định tính, đại đa số các nhà sử học đều nhất trí rằng, chế độ xã hội dưới
các vương triều quân chủ Việt Nam là chế độ phong kiến, được hình thành muộn nhất
từ thế kỷ XI với vương triều Lý. Tuy nhiên, nội hàm của chế độ phong kiến này
khá uyển chuyển, được hiểu và giải thích theo nhiều cách khác nhau. Vì vậy đã
có những ý kiến cực đoan phủ nhận sự tồn tại của chế độ phong kiến ở Việt Nam,
và cho rằng đó chỉ là một loại hình của “Phương thức sản xuất châu Á” dựa theo
thuật ngữ của K.Marx. Vậy nên, ở đây chúng tôi xác định nội hàm chế độ phong kiến
qua những thuộc tính quan trọng nhất, mang tính chất bao trùm. Có thể hiểu đó
là một chế độ xã hội cơ bản dựa trên một nền sản xuất nông nghiệp thủ công và một
chế độ địa tô của địa chủ nhà nước hoặc tư nhân. Theo những tiêu chí đó, chế độ
xã hội của Việt Nam dưới các vương triều quân chủ là một chế độ phong kiến.
Tuy
nhiên, câu hỏi đặt ra là: đó là loại hình chế độ phong kiến nào?. Chắc chắn rằng
đó không phải là chế độ phong kiến của những lãnh chúa cát cứ như kiểu chế độ
phong kiến Tây Âu thời sơ kỳ trung đại. Chế độ phong kiến Việt Nam ngay từ buổi
đầu đã là một chế độ phong kiến nhà nước, trong đó yếu tố tập quyền ngày càng
được tăng cường. Cũng như ở Trung Hoa, trong lịch sử Việt Nam đã tồn tại một chủ
nghĩa nhà nước mang tính cực quyền toàn trị, với chức năng can thiệp và kiểm
soát toàn diện các mặt đời sống của dân chúng, từ chính trị, kinh tế đến văn
hoá tư tưởng. Chủ nghĩa nhà nước toàn trị này nếu như ở Trung Hoa đã là một
công cụ để thống nhất quyền lực trong một đất nước rộng lớn, thì ở Việt Nam lại
là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền của một nước nhỏ, luôn luôn chịu những
áp lực đe doạ của ngoại bang. Một triều đình tập quyền chuyên chế (điển hình là
thời Lê sơ và thời Nguyễn) đứng ở bên trên và là tâm điểm một cộng đồng các
làng xã tự quản, trên lý thuyết phần nào hàm chứa những yếu tố dân chủ, bình đẳng.
Nhà vua là biểu tượng của uy quyền tối thượng và toàn năng đối với các thần
dân, đồng thời là một người cha nghiêm khắc và nhân từ của dân chúng theo một
chủ nghĩa thân dân, dân bản kiểu gia trưởng. Có thể nói đó là một nền chuyên chế
mềm.
Nếu
số đông các nhà vua Việt Nam, chỉ nắm giữ một vai trò biểu tượng được thần
thánh hoá, thì quyền lực thật sự của vương triều đã nằm trong tay tầng lớp quan
liêu, mà đại bộ phần xuất thân từ giới trí thức Nho học, được tuyển lựa chủ yếu
qua chế độ khoa cử. Họ không phải là những lãnh chúa quý tộc thế tập, chiếm hữu
đất đai (như ở Tây Âu), cũng không phải là giai tầng võ sĩ dạn dày chinh chiến
(như ở Nhật Bản) hoặc đẳng cấp tăng lữ nắm giữ thần quyền (như ở các nước Nam Á
và Tây Á). Trên nguyên tắc mọi thành viên thuộc tất cả các tầng lớp xã hội,
không phân biệt nguồn gốc xuất thân, bằng tài năng, học vấn và đức độ của mình,
đều có thể thành đạt trong khoa cử, thăng tiến trong hàng ngũ quan liêu, tạo
nên một chế độ sĩ trị.
Sự
bình đẳng tiến thân và phương thức lựa chọn người cai trị theo tiêu chuẩn học vấn
đã là một tính ưu việt rõ rệt nếu so với những giai tầng thống trị trong các loại
hình chế độ phong kiến khác, từng được nhiều học giả phương Tây tán tụng, đánh
giá cao.
Quan
liêu được xem là tầng lớp ưu tú trong xã hội, được kính trọng về uy tín và địa
vị xã hội là một đẳng cấp có đặc quyền, trước hết là về mặt tinh thần, sau đó
đã chuyển hoá thành những lợi ích kinh tế. Có thể nói đó là một tầng lớp ưu tú
được dán nhãn. Những người quan liêu vốn là những trí thức, nhưng không phải là
những trí thức độc lập, mà là người trí thức dấn thân, gắn bó (hoặc bị trói buộc)
chặt chẽ với nhà cầm quyền và hệ tư tưởng thống trị. Cũng chính từ đó mà trong
nhiều trường hợp, đã dẫn đến hiện tượng tha hoá, biến chất, qua đó, thân phận
người quan liêu đã giết chết nhân cách người trí thức. Văn bia Văn Miếu cũng đã
từng phê phán nghiêm khắc về một loại quan liêu nho sĩ “xấu xa nhơ nhuốc”, “cái
thực kém hẳn cái danh”. Ở đây, thể chế đã làm hư hỏng con người, nói cho đúng
hơn, tính cứng nhắc của thể chế đã làm thoái hoá nhân cách. Tóm lại, ở Việt Nam
từ đầu thế kỷ XI (triều Lý) đến cuối thế kỷ XIX (triều Nguyễn) đã tồn tại một
chế độ phong kiến nhà nước quan liêu.
Chế
độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã tồn tại qua nhiều thế kỷ trong lịch
sử. Nó được xây dựng trên bốn cột trụ chính: một chế độ công hữu ruộng đất với
nền kinh tế tiểu nông, thủ công nghiệp, một nền quân chủ tập quyền chuyên chế
kiểu gia trưởng, một xã hội thần dân phân tầng đẳng cấp và một tư tưởng thống
trị dựa trên Nho giáo chính thống. Trong nhiều thời đoạn lịch sử, nhất là trong
những cuộc chiến tranh vệ quốc, nhà nước quân chủ tập quyền đã phát huy được
tác dụng tích cực của mình, quy tụ và động viên được đông đảo quần chúng nhân
dân. Nhược điểm của nó là bị khuôn vào một thể chế xơ cứng, không năng động, dị
ứng với những cải cách đổi mới, do đó đã mất đi rất nhiều cơ hội và sức mạnh
trong những thời điểm thử thách mang tính chất bước ngoặt lịch sử.
Chế
độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam bao gồm hai thành tố cấu trúc: một mô
hình thiết chế chính trị và hệ tư tưởng khớp nối với một thực thể đời sống kinh
tế - văn hoá tâm lý. Nói theo thuật ngữ của R.Redfiel và A.B Woodside[2], mô hình gắn
bó với “truyền thống lớn” (Great tradition) của giai tầng ưu tú thống trị, mang
tính chất Đông Á ngoại nhập, hỗn dung với một thực thể đời sống là sản phẩm của
“truyền thống nhỏ” (Little tradition) của quần chúng bình dân, mang tính Nam Á
bản địa. Chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã hình thành, xác lập
và phát triển trong một quá trình nhiều thế kỷ, trải qua các giai đoạn tiền mô
hình, mô hình và hậu mô hình.
Thời
kỳ Lý - Trần - Hồ (thế kỷ XI - XV) có thể được coi như giai đoạn tiền mô hình.
Ngay từ khi lên ngôi, dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long, Lý Thái Tổ đã có một tầm
nhìn chiến lược, xây dựng một vương triều ổn định lâu dài, mô phỏng những thiết
chế của chế độ quân chủ tập quyền Trung Hoa. Qua thời Trần, những thiết chế đó
càng được củng cố và kiện toàn hơn với sự tham chính của ngày càng nhiều của tầng
lớp quan liêu nho sĩ. Cơ cấu, chức danh của hệ thống hành chính quan chế, các lễ
nghi, việc đặt tên các cung điện cũng đều được mô phỏng - đôi khi là gần
như nguyên vẹn - theo các thể chế Trung Hoa.
Nho
giáo, sau một quá trình du nhập cưỡng bức vào Việt Nam từ hơn một thiên niên kỷ,
đã được các nhà vua Lý - Trần tự nguyện chấp nhận, sử dụng như một công cụ đắc
lực trong công việc trị nước. Các vua quan Lý - Trần, ngay từ thời niên thiếu
theo học ở Quốc Tử giám đã tiếp thu những nguyên lý, kiến thức của văn hoá, lịch
sử Trung Hoa, được coi như mô hình lý tưởng. Trong đời sống, họ thường viện dẫn
đến những sự kiện, nhân vật trong sách sử Trung Hoa. Nho giáo thời Lý - Trần, từ
một nền văn hoá chính trị - giáo dục đang trên đà dần dần trở thành một hệ tư
tưởng chính trị - xã hội.
Tuy
nhiên, trong giai đoạn tiền mô hình của chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt
Nam, mô hình thiết chế chính trị - hệ tư tưởng vẫn còn quá rộng và đi trước so
với thực thể đời sống xã hội. Văn hoá Đại Việt, còn mang đậm tính dân gian truyền
thống trước phong kiến. Chế độ quân chủ tập quyền tuy đã thành lập, nhưng yếu tố
cát cứ của các thủ lĩnh tộc người miền núi và một số vương hầu quý tộc địa
phương vẫn còn tồn tại. Chế độ quan liêu cồng kềnh mô phỏng quan chế Trung Quốc
tỏ ra không thích hợp với một nước nhỏ là Đại Việt. Thượng hoàng Trần Nhân Tông
đã từng nói với vua Anh Tông: “Sao lại có một nước bé bằng bàn tay mà phong
quan tước nhiều đến như thế!”. Vì vậy có nhiều chức quan ở thời Lý - Trần chỉ
có danh mà không có thực. Thiết chế tự trị - tự quản của của cộng đồng các làng
xã với chế độ ruộng công và những quan hệ xã hội mang tính bình đẳng vẫn còn giữ
vai trò chủ đạo ở nông thôn, chưa bị biến chất bởi sự can thiệp, chi phối của
nhà nước phong kiến.
Về
văn hoá tư tưởng, Nho giáo Đông á tuy đã được chấp nhận trên nguyên tắc, nhưng
đã gặp phải một đối trọng có vai trò thế lực lớn mạnh là cơ tầng văn hoá thấm đậm
tố chất Phật giáo và tín ngưỡng dân gian. Quần chúng bình dân làng xã vẫn gắn
bó với thế giới tâm linh cổ truyền của mình như các tín ngưỡng vật linh, thần
linh, các tục lệ dị đoan và ma thuật gần gũi với với phái Đạo giáo phù thuỷ bên
Trung Quốc. Phật giáo Nam Tông - có lúc đã được coi là quốc giáo - bén rễ rất
sâu vào tâm thức của các tầng lớp dân chúng và cả giai tầng thống trị. Nhiều
nhà vua và quý tộc thời Lý Trần đã rất sùng Phật. Lê Quát đưa ra một hình ảnh đầy
ấn tượng: “nửa nước là sư”. Sứ giả nhà Nguyên là Trần Cương Trung đã nhận xét
dân chúng Đại Việt thời Trần là “vẫn duy trì những phong tục cổ truyền, chưa biết
đến lễ nhạc Trung Hoa”.
Đó
là hiện tượng mà xưa nay thường vẫn được gọi là “tam giáo tịnh tồn”, “tam giáo
đồng nguyên”. Nói chính xác hơn, đó là sự hỗn dung, thế cân bằng đối trọng lưỡng
nguyên văn hoá giữa các yếu tố thượng lưu - bình dân, Đông á - Nam á, giữa một
“truyền thống lớn” chung sống với một “truyền thống nhỏ”. Trong thực tế xã hội,
yếu tố thứ hai còn chiếm ưu thế, nhưng xu thế phát triển lịch sử lại nằm ở yếu
tố thứ nhất.
Thời
Lý - Trần, khoảng cách biệt giữa mô hình thiết chế và thực thể đời sống là một
độ chênh có trị số dương ngày càng giảm thiểu để đi tới sự phù hợp. Do vậy mô
hình thiết chế của chế độ phong kiến nhà nước quan liêu vẫn còn dư địa phát triển.
Đó là một xung lực mang tính tích cực, tiến bộ, thức đẩy xã hội tiến tới một
trình độ phát triển cao hơn, tiếp cận với mô hình.
Chế
độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã phát triển tới giai đoạn mô hình
dưới thời Lê sơ (thế kỷ XV). Triều đại này ra đời trên cơ sở những thành quả của
cuộc kháng chiến chống Minh và đồng thời là những chuyển biến xã hội Đại Việt
dưới thời thuộc Minh.
Hai
thập kỷ thuộc Minh đầu thế kỷ XV thực sự đã là cuộc Bắc thuộc lần thứ hai, có
những tác động sâu sắc tới xã hội Đại Việt, tạo nên một bước ngoặt lịch sử. Với
chế độ trực trị quận huyện, nhà Minh đã du nhập và áp đặt vào Đại Việt gần như
nguyên vẹn những thiết chế chính trị và hệ tư tưởng của chế độ quân chủ tập quyền
chuyên chế kiểu Trung Quốc ở giai đoạn phát triển cao. Văn hoá Đại Việt, từ thế
ưu trội của yếu tố Nam á Phật Đạo đã chuyển sang quỹ đạo của nền văn hoá với
tính ưu trội của yếu tố Đông á Nho giáo.
Các
nhà vua đầu triều Lê - điển hình là Lê Thánh Tông với lòng tự hào dân tộc thể
hiện qua tinh thần “vô tốn Hoa hạ” (không chịu thua nhường Trung Hoa) đã tự
nguyện và nhiệt thành áp dụng mô hình thiết chế chính trị - hệ tư tưởng Nho
giáo - Đông á trong việc xây dựng một nhà nước quân chủ tập quyền cao. Triều
đình với tay, can thiệp sâu vào hệ thống cộng đồng các làng xã, chia ruộng công
định kỳ theo theo phép quân điền, tuyển lựa các xã trưởng trong giới nho sinh,
đưa các chuẩn mực đạo đức Nho giáo vào trong đời sống dân chúng với 24 điều
giáo hoá. Tầng lớp địa chủ bình dân cũng đã hình thành và phát triển. Chế độ
ngôi thứ đẳng cấp nảy sinh, đẩy mạnh quá trình phong kiến hoá làng xã. Quan hệ
sản xuất phong kiến tới đây đã được xác lập một cách tương đối vững chắc. Chế độ
phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam đã phát triển tới giai đoạn mô hình. Mô
hình thiết chế chính trị – hệ tư tưởng lúc này gần trùng hợp với thực thể đời sống
xã hội. Độ chênh lịch sử ngày càng giảm thiểu, tiếp cận đến cực tiểu.
Các
vua Lê đã thi hành chính sách “sùng Nho trọng Đạo là việc hàng đầu”. Tống - Nho
trở thành hệ tư tưởng chính thống, độc tôn, thống trị tinh thần xã hội. Nó là bệ
đỡ tư tưởng cho chế độ nhà nước phong kiến quan liêu, đồng thời là công cụ ổn định
xã hội, khi đã thấm sâu vào các thiết chế làng xã và gia đình.
Tuy
nhiên, trên thực tế “truyền thống lớn” Nho giáo vẫn không lấn át được “truyền
thống nhỏ” Phật - Đạo. Trong thế ổn định, có hàm chứa những dấu hiệu của sự trì
trệ và những yếu tố bất ổn định, dần dần đưa xã hội đến tình thế chao đảo.
Vương triều Lê sơ thịnh trị đã sụp đổ sau đó mấy thập kỷ, khi Mạc Đăng Dung cướp
ngôi.
Từ
thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam bước
vào giai đoạn hậu mô hình. Thiết chế chính trị và hệ tư tưởng chính thống lúc
này đã trở nên chật hẹp, lạc hậu so với thực thể đời sống xã hội phát triển, đã
mang nhiều yếu tố vượt qua tính chất phong kiến truyền thống.
Trải
qua rất nhiều những thăng trầm, biến động lịch sử, thiết chế quân chủ tập quyền
vẫn được duy trì ở Việt Nam. Thời Trịnh - Nguyễn, đất nước bị phân liệt thành
Đàng Ngoài và Đàng Trong, nhưng ở mỗi miền, vẫn là một nhà nước phong kiến tập
quyền, về đại thể là giống nhau. Qua nhiều chao đảo, tới thế kỷ XIX, chế độ
quân chủ chuyên chế lại được phục hồi, củng cố, thậm chí phát triển đến giai đoạn
cao nhất và tột cùng dưới thời Nguyễn. Xương sống của chính thể đó là một đội
ngũ quan liêu Nho sĩ gắn chặt chẽ với hệ tư tưởng Nho giáo chính thống.
Thế
kỷ XVI, XVII, XVIII, Nho giáo tuy vẫn giữ địa vị của hệ tư tưởng thống trị
nhưng đã suy yếu, biến thái đi nhiều trước sự trỗi dậy của những đối trọng tư
tưởng Phật - Đạo phi chính thống. Thế kỷ XIX, các vua đầu triều Nguyễn, đặc biệt
là Minh Mệnh đã ra sức khôi phục Tống - Nho theo đường lối “sùng chính học” với
các chính sách phát triển khoa cử cho phổ biến các huấn điều (thập điều) trong
dân chúng. Tuy nhiên học thuyết này không còn có được sức mạnh và uy tín như ở
thế kỷ XV. Đó là một Nho giáo hậu khủng hoảng, bộc lộ nhiều khuyết tật, cạn kiệt
tính sáng tạo, mang đậm tính giáo điều, chuyên chế, lỗi thời và thủ cựu. Từng
là một lực đẩy, tiến đến một lực duy trì ổn định, hệ tư tưởng Nho giáo lúc này
đã chuyển hoá thành một lực cản đối với sự phát triển xã hội.
Trong
khi đó, thực thể đời sống kinh tế - văn hoá vẫn tiến triển rất linh hoạt, đi
trước mô hình thiết chế chính trị - hệ tư tưởng. Những yếu tố kích thích mới về
kinh tế - xã hội là sự phát triển mạnh mẽ của yếu tố tư hữu ruộng đất, nền kinh
tế hàng hoá - tiền tệ và đô thị, vượt khỏi khuôn mẫu kinh tế phong kiến truyền
thống. Vê văn hoá, đó là sự trỗi dậy của “truyền thống nhỏ”, những đợt sóng mới
về văn hoá tư tưởng - tâm linh phi chính thống như Phật giáo, Đạo giáo và tín
ngưỡng dân gian, sự nở rộ của nền văn hoá dân gian khai phóng đậm chất nhân
văn, thách thức với “truyền thống lớn” là chủ nghĩa giáo điều kinh viện Nho
giáo. Ở đây, văn hoá và tâm lý quần chúng nhân chính đã là một loại nước cường
toan ăn mòn hệ tư tưởng của đẳng cấp thống trị.
Cũng
trong giai đoạn hậu mô hình, độ chênh lịch sử giữa mô hình thiết chế và thực thể
đời sống lại dần dần gia tăng, nhưng với trị số âm, biến thành độ căng lịch sử.
Mô hình vẫn tồn tại, nhưng dưới dạng bị xô lệch, bóp méo.
Sơ
đồ cấu trúc - vận hành của chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam
Lý
- Trần
(XI
- XIV)
Mô
hình > Thực thể
|
Lê
sơ
(XV)
Mô
hình = Thực thể
|
Lê
Trung Hưng - Nguyễn
(XVI
- XIX)
Mô
hình < Thực thể
|
Giữa
thế kỷ XIX, chế độ phong kiến quan liêu Việt Nam đã đi vào cuộc khủng hoảng cơ
cấu. Nhưng vì thiếu vắng một thế lực kinh tế mới, một giai tầng xã hội mới và một
trào lưu tư tưởng mới của chủ nghĩa tư bản, khả năng bùng nổ từ quần chúng một
cuộc cách mạng làm chuyển đổi mô hình đã không xảy ra như ở các quốc gia Tây
Âu. Cũng vì không có một cơ sở kinh tế - xã hội nội tại mới, những nhà vua Nguyễn,
bị phong toả bởi đội ngũ quan liêu Nho sĩ thủ cựu, trước hết là hàng ngũ triều
thần - cũng không thể thực hiện một cuộc đổi mới từ trên xuống, điều chỉnh mô
hình thể chế chính trị, hệ tư tưởng cho phù hợp với thực tế phát triển xã hội,
như trường hợp Nhật Bản thời Minh Trị.
Kết
quả là cả mô hình thiết chế và thực thể đời sống đều lâm vào tình trạng ngưng đọng,
trì trệ, không lối thoát. Đó là những điều kiện thuận lợi dẫn đến sự can thiệp
vũ trang của tư bản thực dân Pháp, tạo nên một cú va đập từ bên ngoài, làm sụp
đổ mô hình truyền thống của chế độ phong kiến nhà nước quan liêu Việt Nam, đã từng
tồn tại trong nhiều thế kỷ.
[1] Theo thần thoại Hy Lạp, tên
khổng lồ Procruste đã bắt các khách đi đường trói chặt vào một chiếc giường sắt,
sau đó đã căng kéo đôi chân của họ dài thêm ra hoặc chặt ngắn bớt đi sao cho vừa
khít với khuôn khổ chiếc giường của mình.
[2] R.Redfield, Peasant
society and Culture: an Anthropological Approach to Civilization, Chicago,
1956
AB
Woodside, Vietnam and the Chinese model, Massachusetts, 1971.
Nguồn: http://www.khoalichsu.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=380:li-ban-v-ch-phong-kin-vit-nam&catid=25:bai-vit&Itemid=33
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét