Ngày 04 tháng 12 năm 2016

BÌNH THƯỜNG HÓA QUAN HỆ VỚI TRUNG QUỐC THEO ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (1986 - 1991)

TS. Phạm Phúc Vĩnh(*) TÓM TẮT Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, từ 1986 đến 1989, Việt Nam đã nhiều lần chủ động đề nghị Trung Quốc nối lại đàm phán để bình thường hóa quan hệ hai nước và chủ động giảm căng thẳng trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, chính sách của Trung Quốc lúc này là chưa muốn bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Đến năm 1989, tình hình thế giới có nhiều biến đổi, sự căng thẳng trong quan hệ Việt – Trung không còn phù hợp với xu thế hòa bình và hợp tác trong quan hệ quốc tế và khu vực. Trung Quốc đã nối lại đàm phán với Việt Nam và đến tháng 11/1991, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã được bình thường hóa. Từ khóa: Việt Nam, Trung Quốc, bình thường hóa, đổi mới, đối ngoại. NORMALIZE RELATION WITH CHINA UNDER THE REFORM POLICY FOREIGN OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM (1986 - 1991) ABSTRACT Implementing the reform policy of the Communist Party of Vietnam, from 1986 to 1989, Vietnam has repeatedly suggested connecting negotiation with China to the normalization of relations between the two countries and actively reduce tensions in relations with China. However, at that time, China's policy was not want to normalization relations with Vietnam. By 1989, the situation of world has many variables, the tensions in the relations Vietnam - China is not consistent with the trend of peace and cooperation in international relations and the region. China has connected negotiation with Vietnam and to November 1991, the Sino-Vietnamese relation was normalization. Keywords: Vietnam, China, normalization, reform, foreign affairs. 1. Chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc của Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam Đến giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội của Việt Nam đã trở nên nghiêm trọng, chỗ dựa quốc tế - ngoại lực quan trọng nhất của Việt Nam lúc này là Liên Xô cũng đang khủng hoảng đã làm cho Việt Nam ngày càng khó khăn hơn. Vấn đề đặt ra lúc này là cùng với việc đổi mới các chính sách đối nội, Việt Nam phải phá được thế bị bao vây, cô lập về đối ngoại, mở rộng quan hệ quốc tế để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng. Từ thực tế trên, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của ĐCS Việt Nam (tháng 3/1982) đã có những thay đổi trong chính sách đối ngoại. Văn kiện Đại hội xác định: “Nhân dân Việt Nam chủ trương thiết lập những quan hệ láng giềng tốt với các nước ASEAN, luôn luôn sẵn sàng phối hợp, cố gắng để xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hoà bình và ổn định”[3; tr. 153]. Đối với các nước khác thì sẵn sàng “thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường về mặt nhà nước về kinh tế, văn hoá, khoa học kĩ thuật với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị xã hội, trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền bình đẳng cùng có lợi”[3; tr. 155]. Những tuyên bố về đường lối đối ngoại mới của Việt Nam năm 1982 đã không được các nước ASEAN và phương Tây ủng hộ. Nguyên nhân của tình trạng đó không nằm ngoài việc quân tình nguyện Việt Nam vẫn còn trên lãnh thổ Campuchia. Việc giải quyết “vấn đề Campuchia” chính là “chìa khoá” để Việt Nam mở cánh cửa giao lưu tiếp xúc với bên ngoài, phá thế bị cô lập. Tuy nhiên, việc giải quyết “vấn đề Campuchia” lại liên quan đến nhiều nước khác nhau, trong đó Trung Quốc có một vị trí rất quan trọng. Chính vì vậy, Việt Nam không thể không cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Để mở đường cho việc giải quyết “vấn đề Campuchia”, tiến tới mở rộng quan hệ quốc tế, từ 1982 đến 1985, Việt Nam liên tiếp đưa ra những tuyên bố và hành động nhằm tìm cách giảm căng thẳng, tìm cách nối lại đàm phán, khôi phục quan hệ với Trung Quốc: tháng 7/1982, thông qua Hội nghị Ngoại trưởng ba nước Đông Dương, Việt Nam đã đưa ra tuyên bố rằng: “mong muốn có quan hệ hoà bình hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc trong cùng tồn tại hoà bình và nối lại đàm phán Trung - Việt”[10, tr. 202]. Ngày 17/7/1982, Việt Nam đã chủ động rút một phần quân tình nguyện ở Campuchia về nước và tuyên bố sẽ tiếp tục rút như vậy hàng năm. Trung Quốc chỉ đáp lại các đề nghị của Việt Nam bằng tuyên bố “Trung Quốc yêu cầu Việt Nam rút ngay quân khỏi Campuchia, không kéo đến 1990”[10, tr. 204]. Mặc dù vậy, Việt Nam vẫn tiếp tục để ngỏ khả năng đàm phán vô điều kiện với Trung Quốc và tại Hội nghị Ngoại trưởng ba nước Đông Dương ngày 08/6/1986, Việt Nam tiếp tục tuyên bố “…sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc ở bất cứ đâu và ở bất cứ cấp nào”[10, tr. 204] và nhờ Liên Xô chuyển cho phía Trung Quốc đề nghị của Việt Nam về việc nối lại đàm phán Trung - Việt. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCS Việt Nam (diễn ra từ 05/12/1986 đến 18/12/1986) xác định: “Chính phủ và nhân dân Việt Nam, trước sau như một, quý trọng và nhất định làm hết sức mình để khôi phục tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước, và đã đưa ra nhiều đề nghị nhằm sớm bình thường hoá quan hệ giữa nước ta và Cộng hòa nhân dân (CHND) Trung Hoa”, và “Một lần nữa, chúng ta chính thức tuyên bố rằng: Việt Nam sẵn sàng đàm phán với Trung Quốc bất cứ lúc nào, bất cứ cấp nào và bất cứ ở đâu, nhằm bình thường hoá quan hệ giữa hai nước vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hoà bình ở Đông Nam Á và trên thế giới” ”[4, tr. 107]. 2. Những nỗ lực nối lại đàm phán của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 1989 Thực hiện đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng, Việt Nam tiếp tục thực hiện rút quân khỏi Campuchia và hàng loạt hành động trực tiếp thể hiện thái độ hoà hoãn, giảm căng thẳng và mong muốn bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc . Bất chấp những đề nghị và hành động có thiện chí của Việt Nam, từ năm 1986 đến giữa năm 1988, Trung Quốc vẫn tỏ thái độ bất hợp tác, tiếp tục đưa ra điều kiện đòi Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia hoàn toàn và đồng thời đẩy mạnh các hoạt động tranh chấp trên biển Đông . Thái độ trên của Trung Quốc đã làm cho những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam trở nên vô nghĩa. Trong khi Trung Quốc không đáp lại những thiện chí của Việt Nam trong việc giải quyết “vấn đề Campuchia”, thì ngược lại các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế đã đón nhận một cách tích cực. Năm 1987 là năm chứng kiến những thay đổi có tính bước ngoặt trong lập trường của ASEAN đối với Việt Nam về “vấn đề Campuchia”. Ngày 29/7/1987, nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (BNG) Indonesia, hai bên đã ra thông cáo chung, đánh dấu sự kết thúc của thời kì đối đầu giữa Việt Nam và ASEAN xung quanh “vấn đề Campuchia” và mở ra thời kì của những cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa Hunsen và Sihanouk. Những thuận lợi này đã mở ra cho Việt Nam một hướng mới trong việc giải quyết “vấn đề Campuchia”: nếu chưa nối lại được đàm phán với Trung Quốc, thì Việt Nam có thể chuyển sang hợp tác với các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế để tìm giải pháp cho “vấn đề Campuchia”. Nghị quyết 13 “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới” ngày 25/5/1988 của Bộ chính trị đã xác định: “Vấn đề Campuchia phải được giải quyết với Trung Quốc, nhưng cho đến nay, Trung Quốc vẫn chưa muốn trực tiếp giải quyết với ta về “vấn đề Campuchia”. Vì vậy, ta cần tiếp tục kiên trì mở ra nhiều hướng khác (Hunsen – Sihanouk, Việt Nam – Indonesia, Việt Nam – Thái Lan, ASEAN – Đông Dương, Việt Nam – Mĩ)… để thúc đẩy và kéo Trung Quốc vào giải quyết. Dù giải quyết trực tiếp với Trung Quốc hay với các đối tác khác, thì việc giải quyết vấn đề Campuchia” cũng phục vụ cho mục tiêu bình thường hóa với Trung Quốc, không nhằm chống lại Trung Quốc”[1, tr. 15]. Chủ trương của Nghị quyết 13 đã được các nước ASEAN đón nhận. Trong cuộc họp hàng năm của ASEAN diễn ra từ ngày 03/7/1988 đến ngày 05/7/1988 tại Bangkok (Thái Lan), các đại biểu đã bày tỏ niềm tin tưởng vững chắc rằng Việt Nam đã từ bỏ các mục tiêu quân sự của mình ở Campuchia và đang hướng toàn bộ nỗ lực vào giải pháp ngoại giao. Nếu như trước đó, ASEAN và cộng đồng quốc tế cho rằng Việt Nam là mối đe dọa đối với hòa bình và an ninh khu vực, thì giờ đây họ đã nhận ra được rằng, mối đe dọa đó chính là Khmer đỏ, là những hành động mà Trung Quốc đang tiến hành trên biển Đông chứ không phải là Việt Nam. Nhằm giải quyết viễn ảnh Khmer đỏ có thể giành được thế thượng phong quân sự sau khi quân Việt Nam rút toàn bộ, “ASEAN với sự ủng hộ của Mĩ đã nhấn mạnh rằng Trung Quốc nhất thiết phải có mặt trong việc đề ra các bảo đảm quốc tế cho những thỏa thuận đạt được giữa các nước trong vùng quanh “vấn đề Campuchia”. Đồng thời cũng cần thành lập một lực lượng quốc tế gìn giữ hòa bình đông đảo ở nước này” ”[9, tr. 61]. Chính trên tình thần của lập trường này, tại Hội nghị JIM-1 (Jakarta Informal Meeting) từ 25 đến 27/7/1988, các nước ASEAN đã đưa ra đề nghị giải giáp tất cả các phe Khmer đang xung đột ở Campuchia và sự cần thiết phải có một lực lượng vũ trang quốc tế ở nước này để thực hiện quyết định vừa kể. Đề nghị này phản ánh rõ ràng ý đồ của ASEAN là không muốn để bên nào chiếm được thế thượng phong ở Campuchia sau khi quân đội Việt Nam rút đi và trong lúc chờ tổng tuyển cử. Trong bầu không khí ngày càng trở nên hòa dịu của quan hệ Việt Nam – ASEAN, tháng 8/1988, Thủ tướng Thái Lan Chatichai Choonhavan đã tuyên bố rằng cần xem các nước Đông Dương không phải như là những chiến trường mà là những thị trường có thể trong tương lai. Sau đó, ngày 08/8/1988, Thủ tướng Thái Lan đã tuyên bố rằng Chính phủ sẽ khuyến khích các nhà doanh thương Thái Lan tăng các hoạt động thương mại với Lào và Việt Nam mà không cần xem xét đến việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Như vậy, quan hệ giữa Việt Nam với các nước cứng rắn nhất trong ASEAN đã được cải thiện. Sự hợp tác giữa Việt Nam với ASEAN đã mở ra một hướng giải quyết mới cho “vấn đề Campuchia” mà không phải phụ thuộc quá nhiều vào việc Trung Quốc có chấp nhận đàm phán với Việt Nam hay không. Như vậy, đến cuối năm 1988, quan hệ Xô – Mĩ, Xô - Trung bước sang thời kì hòa dịu, quan hệ giữa Việt Nam với các nước thành viên ASEAN đã chuyển từ đối đầu sang đối thoại và hợp tác, “vấn đề Campuchia” từng bước được quốc tế hóa, việc tiếp tục trì hoãn việc nối lại đàm phán với Việt Nam để giải quyết “vấn đề Campuchia” và bình thường hóa quan hệ Việt – Trung không còn phù hợp với tình hình quan hệ quốc tế và lợi ích của Trung Quốc nữa. Ngày 01/7/1988, phía Trung Quốc phát biểu một tuyên bố đề xuất chủ trương bốn điểm giải quyết chính trị vấn đề Campuchia, thể hiện rõ lập trường của Trung Quốc: “nhanh chóng giải quyết vấn đề Việt Nam rút quân; sau khi Việt Nam rút quân, Campuchia thành lập chính phủ liên hiệp lâm thời bốn bên do hoàng thân Sihanouk đứng đầu; sau khi thành lập chính phủ lâm thời sẽ tiến hành tự do bầu cử ở Campuchia; tiến hành giám sát quốc tế có hiệu quả đối với tiến trình nói trên” ”[11]. Trước những thuận lợi trên, ngày 15/12/1988, Việt Nam đã chính thức đề nghị Trung Quốc tổ chức cuộc gặp cấp Bộ trưởng BNG để bàn về bình thường hóa quan hệ hai nước. Đáp lại lời đề nghị của Việt Nam, ngày 24/12/1988, BNG Trung Quốc đã thông báo mời một Thứ trưởng ngoại giao của Việt Nam đi Bắc Kinh vào giữa tháng 01/1989 để trao đổi với Trung Quốc về “vấn đề Campuchia” và bình thường hoá quan hệ Việt – Trung, chuẩn bị cho cuộc gặp Bộ trưởng BNG hai nước. Sau 10 năm đối đầu gay gắt, trong đó có 8 năm nhất định từ chối đàm phán, cuối cùng Trung Quốc đã chấp nhận đối thoại với Việt Nam để giải quyết “vấn đề Campuchia” và bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Đây là sự kiện mở đầu cho tiến trình đàm phán để bình thường hóa quan hệ Việt – Trung. 3. Quá trình đàm phán và tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt - Trung Mặc dù Trung Quốc đã chấp nhận nối lại đàm phán với Việt Nam, nhưng khi tiến hành đàm phán, điều kiện mới mà Trung Quốc đưa ra để đổi lấy việc bình thường hóa quan hệ giữa hai nước không chỉ là rút quân khỏi Campuchia mà Việt Nam còn phải ủng hộ lập trường của Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề này. Tuy nhiên, lập trường của Việt Nam là vấn đề nội bộ Campuchia phải do các bên Campuchia giải quyết. Quá trình đàm phán vừa được mở ra lại rơi vào tình trạng bế tắc. Cuối cùng, hai bên đã đi đến thống nhất tiếp tục đàm phán cấp Thứ trưởng vòng hai và Trung Quốc cũng cho Việt Nam biết rằng: “nếu cuộc gặp vòng hai có kết quả và “vấn đề Campuchia” có tiến triển thì Trung Quốc mới khẳng định việc tổ chức cuộc gặp Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của hai nước”[15, tr. 73]. Tuy Trung Quốc muốn tiếp tục trì hoãn quá trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, nhưng từ giữa năm 1989 trở đi, tình hình thế giới, khu vực và Trung Quốc có nhiều biến động to lớn, tạo ra những động lực mạnh mẽ thúc đẩy Trung Quốc sớm đi đến bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Thứ nhất, “vấn đề Campuchia” từng bước được giải quyết: sau những thỏa thuận đạt được ở Hội nghị JIM-1, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh rút quân khỏi Campuchia nhằm thúc đẩy xu thế đối thoại và tiến đến quốc tế hóa “vấn đề Campuchia” để tranh thủ các nước ASEAN và cộng đồng quốc tế, kiềm chế những đòi hỏi của Trung Quốc. Tại Hội nghị JIM-2 (02/1989), các nước ASEAN đề nghị giải giáp tất cả lực lượng các bên Campuchia xung đột, để thay vào đó là lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc (LHQ) và đã nhận được sự ủng hộ của Mĩ, Trung Quốc, Liên hiệp quốc và cả Liên Xô, đồng thời phù hợp với chủ trương của Việt Nam và được các bên Campuchia đồng thuận. Những thỏa thuận về giải pháp chính trị cho “vấn đề Campuchia” đạt được trong Hội nghị JIM-2 đã cho phép Việt Nam quyết định dứt khoát hơn trong việc rút quân khỏi Campuchia. Tháng 3/1989, Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành (BCH) Trung ương ĐCS Việt Nam (khóa VI) đã thể hiện quyết tâm: “góp phần tích cực giải quyết vấn đề Campuchia bằng chính trị, đồng thời chuẩn bị tốt việc rút hết quân sớm trong trường hợp chưa có giải pháp về Campuchia”[5, tr. 40]; ngày 05/4/1989, Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam rút hết quân đội của mình về nước trước tháng 9/1989, dù có giải pháp hay không”[14]. Thực hiện chủ trương trên, Việt Nam đã tham gia tích cực trong Hội nghị quốc tế về “vấn đề Campuchia” tại Paris (vòng 1: từ 30/7 đến 01/8, vòng 2: từ 28/8 đến 30/8/1989). Tuy nhiên, Hội nghị kết thúc mà các bên vẫn chưa đưa ra được một giải pháp cuối cùng cho vấn đề Campuchia. Thực hiện đúng cam kết, từ ngày 21 đến 26/9/1989, Việt Nam đã rút hết quân tình nguyện còn lại ở Campuchia cùng toàn bộ vũ khí và phương tiện chiến tranh dưới sự quan sát của cộng đồng quốc tế. Ngày 23/10/1991, Hiệp định Paris về Campuchia được kí kết, “vấn đề Campuchia” –vật cản lớn nhất của quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Trung do Trung Quốc đặt ra đã được tháo gỡ. Thứ hai, xu thế hòa bình, hữu nghị trong quan hệ quốc tế và khu vực: tháng 12/1989, lãnh đạo Xô – Mĩ chính thức tuyên bố chấm dứt tình trạng đối đầu giữa hai nước, sự ngờ vực của các nước Đông Nam Á đối với Việt Nam cũng tan biến khi Việt Nam đã rút quân khỏi Campuchia (9/1989), quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN và các nước khác cũng dần hồi phục. Liên minh Trung – Mĩ, Trung – ASEAN chống lại Việt Nam và Liên Xô vì thế không còn lí do để tồn tại. Chính sách kéo dài đàm phán, trì hoãn việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam làm cho Trung Quốc càng bị đẩy sâu vào thế bị cô lập. Trung Quốc buộc phải thay đổi chính sách đối ngoại nói chung và chính sách đối với các quốc gia láng giềng Đông Nam Á nói riêng, trong đó có Việt Nam. Thứ ba, những thay đổi trong chính sách Đông Nam Á của Trung Quốc: sau sự kiện Thiên An Môn (04/6/1989), Trung Quốc bị các nước phương Tây thi hành chính sách cấm vận. Trung Quốc bị đẩy vào thế bị bao vây, cô lập, đe dọa trực tiếp đến quá trình thực hiện mục tiêu “bốn hiện đại hóa” của nước này. Để tìm cách thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập, Trung Quốc đã thực hiện chủ trương tăng cường quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á. Trong lúc “vấn đề Campuchia” đã tìm được giải pháp chính trị, Việt Nam trở thành một nhân tố tích cực trong việc xây dựng một Đông Nam Á hoà bình và ổn định, thì Trung Quốc lại tăng cường xung đột, gây căng thẳng ở biển Đông, trì hoãn bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Những lo ngại của các nước Đông Nam Á về sự bất ổn trong khu vực và nguy cơ bành trướng từ Trung Quốc như đã từng diễn ra trong quá khứ đã làm cho chủ trương tăng cường quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á gặp phải những trở ngại lớn. Trong hoàn cảnh đó, Trung Quốc buộc phải điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước láng giềng, đặc biệt là Đông Nam Á để từng bước đưa đất nước thoát khỏi thế bị cô lập, tiến tới giải tỏa sự bế tắc trong quan hệ với Mĩ và phương Tây. Tháng 8/1990, Thủ tướng Lý Bằng đã thực hiện chuyến thăm đến các nước trong khối ASEAN. Nhằm trấn an những lo ngại của các nước này, Ông Lí Bằng đã tuyên bố rằng Trung Quốc sẽ sẵn sàng thương lượng và hợp tác về vấn đề Nam Sa (Trường Sa - TG) và sẽ đàm phán để bình thường hóa quan hệ với Việt Nam nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định cho khu vực. Thứ tư, sự sụp đổ của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu và Liên Xô: trong những năm từ 1989 đến 1991, các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô rơi vào khủng hoảng và từng bước sụp đổ. Trung Quốc trở thành nước XHCN lớn nhất trong số các nước còn lại. Mặc dù đang theo đuổi mục tiêu tranh thủ Mĩ và các nước tư bản phương Tây, nhưng Trung Quốc cũng phải đối mặt với cuộc đấu tranh trong lĩnh vực ý thức hệ tư tưởng. Thực tế này đòi hỏi Trung Quốc và các nước XHCN còn lại khác phải xích lại gần nhau hơn. Thứ năm, những lợi ích kinh tế của nhân dân hai nước: mặc dù quan hệ Việt – Trung chưa chính thức được bình thường hóa trở lại, nhưng những hoạt động giao lưu buôn bán giữa nhân dân vùng biên giới hai nước đã diễn ra mạnh mẽ . Việc bình thường hoá quan hệ Việt – Trung không chỉ là mong muốn của nhân dân hai nước mà còn mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho cả hai quốc gia. Những biến động to lớn của tình hình quan hệ quốc tế và trong nước như trên đã buộc Trung Quốc phải chấp nhận hạ thấp một phần vai trò của mình trong quá trình giải quyết “vấn đề Campuchia”, và điều chỉnh chính sách trong quan hệ với các nước láng giềng Đông Nam Á trong đó có việc thúc đẩy vấn đề bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Ngày 12/8/1990, trong lúc đang ở thăm Singapore, Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng đã đưa ra tuyên bố: “Trung Quốc hy vọng cuối cùng sẽ bình thường hoá quan hệ với Việt Nam”[10, tr. 208]. Đáp lại, ngày 13/8/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) Đỗ Mười đã ra tuyên bố hoan nghênh và khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và giải quyết những vấn đề giữa hai nước bằng thương lượng hòa bình”[8, tr. 91]. Ngày 29/8/1990, Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội đã chuyển thông điệp của TBT ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng mời TBT ĐCS Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng sang đàm phán với Trung Quốc tại Thành Đô (thủ phủ của tỉnh Tứ Xuyên) trong tháng 9/1990 để thoả thuận về việc giải quyết “vấn đề Campuchia” và bình thường hoá quan hệ Việt – Trung. Từ ngày 03 đến 04/9/1990, cuộc đàm phán Việt – Trung đã diễn ra tại Thành Đô giữa TBT Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch HĐBT Đỗ Mười và Cố vấn Phạm Văn Đồng của Việt Nam với TBT ĐCS Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lí Bằng của Trung Quốc. Đây là cuộc gặp gỡ đầu tiên của lãnh đạo cấp cao hai nước kể từ khi mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc xấu đi. Từ sau cuộc đàm phán ở Thành Đô, quá trình bình thường hóa quan hệ Việt - Trung bắt đầu có những chuyển biến nhanh hơn: Trước hết là chuyến thăm Trung Quốc của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tư cách là khách mời đặc biệt của Chính phủ Trung Quốc nhân lễ khai mạc Á vận hội lần thứ 14 (ASIAD 90 diễn ra từ 18 đến 28/9/1990). Báo cáo tại kì họp thứ tư, Quốc hội Trung Quốc khoá VII ngày 25/3/1991, Thủ tướng Lý Bằng đã tuyên bố: “Trung Quốc mong muốn cùng với cộng đồng quốc tế, trong khuôn khổ các văn kiện có liên quan của LHQ, thông qua cố gắng sớm giải quyết toàn diện, công bằng hợp lí “vấn đề Campuchia”. Cùng với sự tiến triển của việc giải quyết chính trị “vấn đề Campuchia”, quan hệ Việt - Trung đã bắt đầu tan băng cũng sẽ được phục hồi từng bước”[2, tr. 3]. Về phía Việt Nam, chủ trương thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc tiếp tục được ĐCS Việt Nam xem là một nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm. Báo cáo chính trị của BCH Trung ương khoá VI về các văn kiện trình Đại hội VII của ĐCS Việt Nam xác định: “Phấn đấu góp phần sớm đạt một giải pháp chính trị toàn bộ về “vấn đề Campuchia”, trên cơ sở tôn trọng chủ quyền của Campuchia và Hiến chương Liên hiệp quốc. Thúc đẩy quá trình bình thường hoá quan hệ Việt – Trung, từng bước mở rộng hợp tác Việt – Trung, giải quyết những vấn đề tồn tại giữa hai nước thông qua thương lượng”[6, tr. 89]. Thực hiện chủ trương của lãnh đạo hai nước, những hoạt động ngoại giao cấp Thứ trưởng và Bộ trưởng và các cấp cao hơn giữa hai bên đã liên tiếp diễn ra để chuẩn bị cho việc bình thường hoá quan hệ Việt – Trung khi “vấn đề Campuchia” được giải quyết. Từ ngày 28/7 đến 02/8/1991, Đoàn đại diện đặc biệt của Trung ương ĐCS Việt Nam do Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Trưởng ban đối ngoại Trung ương Hồng Hà dẫn đầu sang thăm và đàm phán về việc bình thường hóa quan hệ giữ hai Đảng và hai nước Việt Nam - Trung Quốc. Trong buổi làm việc với đoàn đại diện đặc biệt của ĐCS Việt Nam, TBT ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân đã phát biểu: “chúng ta là hai nước láng giềng, hai ĐCS cầm quyền, không có lí do gì không xây dựng quan hệ láng giềng, hữu hảo với nhau”[7, tr. 25] và thông qua đoàn đại diện đặc biệt của ĐCS Việt Nam, TBT Giang Trạch Dân đại diện Đảng và Nhà nước Trung Quốc mời đoàn cấp cao của Đảng và Nhà nước Việt Nam do TBT Đỗ Mười dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc trong năm 1991. Trong bối cảnh Hiệp định Paris về “vấn đề Campuchia” đã được kí kết (23/10/1991) và sự chuẩn bị của BNG hai nước cho việc chính thức bình thường hóa quan hệ đã hoàn tất, từ ngày 05/11/1991 đến 10/11/1991, TBT Đỗ Mười và Chủ tịch HĐBT Võ Văn Kiệt đã dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam sang thăm chính thức nước CHND Trung Hoa theo lời mời của TBT ĐCS Trung Quốc Giang Trạch Dân. Kết thúc chuyên thăm, hai bên đã kí thông cáo chung, tuyên bố bình thường hoá quan hệ giữa hai nước, bản thông cáo nêu rõ: “Hai bên tuyên bố hai nước Việt Nam – Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện trên cơ sở năm nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; không xâm phạm lẫn nhau; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Hai ĐCS Việt Nam và Trung Quốc sẽ khôi phục quan hệ bình thường trên các nguyên tắc độc lập tự chủ, hoàn toàn bình đẳng, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”[12, tr. 2]. Ngoài ra, lãnh đạo hai nước cũng đã kí Hiệp định thương mại và Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc vùng biên giới giữa hai nước, tạo cơ sở pháp lí đầu tiên cho việc khôi phục quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trên lĩnh vực thương mại và giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ. Chuyến thăm này đã đánh dấu sự bình thường hoá quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, mở ra một trang mới trong lịch sử quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau 13 năm băng giá. 4. Kết luận Khôi phục đàm phán, tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt – Trung là một trong những nhiệm vụ đối ngoại trọng tâm của quá trình hiện thực hóa đường lối đối ngoại đổi mới của ĐCS Việt Nam. Đó là một quá trình đầy khó khăn và thử thách. Trong quá trình đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã tích cực, sáng tạo và chủ động thực hiện nhiều biện pháp phù hợp với xu thế chung của tình hình quan hệ quốc tế để thúc đẩy Trung Quốc nối lại đàm phán và đưa quan hệ hai nước trở lại bình thường. Có thể nói, quan hệ Việt Nam – Trung Quốc bình thường hóa là kết quả tất yếu, phù hợp với yêu cầu phát triển của cả hai nước, nhu cầu hoà bình và ổn định trong khu vực và thế giới và đặc biệt là những nỗ lực ngoại giao đầy sáng tạo của Việt Nam. Đây là một thắng lợi lớn trong quá trình đấu tranh ngoại giao với Trung Quốc nói riêng và thành công của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá của Việt Nam từ sau đổi mới nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo của Văn phòng TW Đảng về công tác đối ngoại trong những năm đổi mới (1989), Phần 1, Cục lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng. 2. Lí Bằng (1991), “Báo cáo tại kì họp hàng năm Quốc hội Trung Quốc”, Tài liệu tham khảo đặc biệt (TTXVN), ngày 28/3/1991. 3. ĐCS Việt Nam (1982), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần V (t.1), Nxb Sự Thật, Hà Nội. 4. ĐCS Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 5. ĐCS Việt Nam (1989), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCH TW khóa VI, Nxb CTQG, Hà Nội. 6. ĐCS Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội. 7. Trần Văn Độ (Chủ biên) (2002), Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc những sự kiện 1991 – 2000, Nxb KHXH, Hà Nội. 8. Nguyễn Thị Mai Hoa (2007), Chủ trương của ĐCS Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc từ năm 1975 đến năm 2001, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học KHXH & NV – Đại học Quốc gia Hà Nội. 9. Lê Phụng Hoàng (1994), Một số vấn đề về quan hệ quốc tế ở Đông Nam Á (1975 - 1991), Trường ĐHSP Tp. Hồ Chí Minh. 10. Lưu Văn Lợi (1998), Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam 1945 – 1995 (t.2), Nxb CAND, Hà Nội. 11. Tiền Kì Tham (2004), Mười câu chuyện ngoại giao (Hồi kí), Trần Hữu Nghĩa và Dương Quốc Anh dịch, Dương Danh Dy hiệu đính, http://www.diendan.org. 12. “Thông cáo chung Việt Nam - Trung Quốc năm 1991”, Báo Nhân Dân, ngày 11/11/1991. 13. Thông tấn xã Việt Nam (1991), Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 26/6/1991. 14. “Tuyên bố chung của CHND Campuchia, CHDCND Lào và CHXHCN Việt Nam về việc rút toàn bộ quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia về nước”, Báo Nhân dân, ngày 6/4/1989. 15. Vũ Quang Vinh (2001), ĐCS Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 – 2000), Nxb Thanh Niên, Hà Nội.

Ngày 28 tháng 04 năm 2015

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÔNG DƯƠNG ĐỐI VỚI VỚI CÁC ĐẢNG PHÁI CHÍNH TRỊ TRONG CUỘC ĐỘNG VÌ DÂN SINH, DÂN CHỦ (1936-1939)



Những năm 1936-1939 là một thời kỳ rất đặc biệt trong lịch sử cận đại Việt Nam, trong đó diễn ra cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ rộng lớn chưa từng có, lôi cuốn đông đảo các giai tầng tham gia dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đạt được thành công đó, một phần do Đảng có những nhận định đúng đắn về thái độ về khả năng chính trị của các đảng phái, lôi kéo họ tham gia mặt trận dân chủ rộng rãi, đồng thời đấu tranh kiên quyết với những tổ chức phản động.
 
1. Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá về khả năng và thái độ chính trị của các đảng phái ở Việt Nam.
Tại Việt Nam trong những năm 1936-1939, ngoài các đảng phái, tổ chức thân chính quyền thực dân, còn có khá nhiều tổ chức có khuynh hướng chống Pháp. Chính vì vậy, đối với Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này, trước hết cần đánh giá một cách chính xác về khả năng và thái độ chính trị cùa các đảng phái. Quan trọng hơn, sự đánh giá đó không phải là những nhận định có tính chất cảm tính mà phải dựa trên những tiêu chí: “không chỉ đề lên mấy nguyên tắc chung là đủ, cần phải lấy con mắt của người cách mệnh thực tế mà xét rõ địa vị và năng lực của các đảng phái”[1]. Đây là nhận định cực kỳ sắc sảo về của lãnh tụ Nguyễn Văn Cừ trong tác phẩm nổi tiếng Tự chỉ trích. Chính bởi đứng vững trên mảnh đất thực tiễn mà Nguyễn Văn Cừ đã khẳng định “Ta không thể đem những khái niệm “đảng phái”, “lãnh tụ”, “quần chúng” ở các xứ tư bản Âu-Mỹ mà đặt một cách máy móc vào hoàn cảnh Đông Dương”.[2] Trong khi ở các nước tư bản, các đảng tư sản có lịch sử lâu đời, cội rễ quần chúng sâu xa, tổ chức quy củ thì các đảng tư sản ở Đông Dương phần nhiều chỉ có tên, không có quy tắc rõ ràng, hoạt động rất hạn chế. Có những đảng tư sản ít nhiều dành được sự ủng hộ của quần chúng thì chủ yếu là do uy tín chính trị của cá nhân lãnh tụ, chứ không phải do khả năng thực sự của chính đảng đó.
Từ thực tế đó, Đảng Cộng sản Đông Dương đã “phân loại” một cách khá chính xác các đảng phái ở Việt Nam dựa trên tư tưởng chính trị của họ thành mấy nhóm. Thứ nhất, nhóm phong kiến Việt Nam bao gồm mấy phe phái: phe chính phủ Nam triều Bảo Đại làm tay sai cho Pháp; phe Khôi-Diệm còn có đôi chút ý muốn chống chính sách độc đoán của đế quốc, nhưng cũng dựa vào đế quốc, không thể tách rời đế quốc và phe Cường Để thân Nhật “vô tình hay cố ý dọn đường cho một kẻ ngoại xâm khác”.[3] Thứ hai, nhóm đảng phái đại diện cho tư bản bản xứ và địa chủ. Nổi bật nhất trong số này là Đảng Lập hiến - “đã từng được giai cấp tư sản bổn xứ và địa chủ Nam Kỳ ủng hộ khá đông… nhưng vì chủ trương “Pháp Việt đề huề”… nên càng ngày càng mất tín nhiệm”.[4] Đảng Dân chủ “tuy có chương trình cải cách có tính chất cấp tiến nhưng không hoạt động trong quần chúng”[5]. Thứ ba, những đảng cách mệnh quốc gia do giai cấp tiểu tư sản thành lập, trong đó có những đảng không có cơ sở trong quần chúng như Việt Nam cách mệnh đảng, Việt Nam độc lập đảng; hoặc bị tan rã trong một thời kỳ vẫn chưa khôi phục được như Việt Nam Quốc dân đảng. Mặc dù vậy, Đảng Cộng sản Đông Dương vẫn cho rằng “giai cấp tiểu tư sản còn có năng lực cách mệnh phản đế, nên các đảng cách mệnh tiểu tư sản, hoặc sẽ thành lập, hoặc tổ chức lại sẽ nhảy ra hoạt động”.[6] Thứ tư, những tổ chức chính trị mang màu sắc tôn giáo như Đạo Cao đài, Đảng đánh giá các lãnh tụ Cao đài có tính cơ hội, quần chúng tín đồ có tinh thần phản đế nhưng mê tín nên dễ bị dụ dỗ, lừa gạt.[7] Thứ năm, các phe đảng khác như Thiên địa hội, Phan Xích Long ở Nam Kỳ, Bạch Tuyết Cầu ở Bắc Kỳ “phần nhiều gồm những tay phiêu lưu, hoặc “anh chị” có tinh thần phản đế, song chỉ âm mưu khủng bố cá nhân và chủ trương ăn cướp chứ không có vận động và tổ chức trong quần chúng”.[8] Cuối cùng, Đảng Cộng sản Đông Dương nhận thức được tính chất nguy hiểm của nhóm Tờrốtkít vì “che đậy hành vi phản động của chúng bằng những câu cách mệnh cực tả”.[9] Việc đánh giá đúng thái độ của các đảng phái là cơ sở đầu tiên tối quan trọng để Đảng đưa ra những đối sách phù hợp.

2. Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi các đảng phái tham gia mặt trận nhân dân phản đế.
Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, tại Đại hội VII diễn ra từ ngày 25/7 đến ngày 20/8/1935, Quốc tế Cộng sản đưa ra chính sách mới, trong đó chủ trương các đảng cộng sản ở tất cả các nước phải thành lập cho được một liên minh dân chủ rộng rãi, cùng đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít, vì “tự do, cơm áo, hòa bình”. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tai Thượng Hải (tháng 7/1936), Đảng Cộng sản Đông Dương chính thức thừa nhận và triển khai chính sách này khi khẳng định “Ban Trung ương, sau khi nghiên cứu những điều kiện chủ quan và khách quan ở Đông Dương, đã đi đến kết luận rằng việc thành lập Mặt trận dân tộc phản đế không thể trì hoãn thêm một phút”.[10] TrongThư ngỏ của Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, Đảng phân tích nguyên nhân chủ yếu khiến cách mạng Đông Dương còn non yếu, phân tán là do “các đảng và tổ chức cách mạng ở Đông Dương không biết đoàn kết chặt chẽ chống kẻ thù chung, chủ nghĩa đế quốc Pháp”[11]. Chính bởi vậy, “Đảng Cộng sản Đông Dương đề nghị cùng tất cả các đảng quên đi những sự hiểu lầm trong quá khứ để tập trung mọi lực lượng đấy tranh của các đảng cho phong trào chống đế quốc”.[12] Để thực hiện mục tiêu đó, Đảng Cộng sản Đông Dương có thể thỏa thuận với các đảng về một số vấn đề hoặc một cương lĩnh hành động tối thiểu chung.[13]
Tất nhiên, việc thành lập mặt trận thống nhất phản đế không phải tùy tiện, mà phải đảm bảo những nguyên tắc chặt chẽ. Trước hết, “các đảng phái cách mạng cùng nhau liên hiệp tranh đấu không được kỳ thị nhau, trái lại phải giúp đỡ nhau, phải ủng hộ lẫn nhau, nhưng Đảng Cộng sản phải luôn giữ quyền tự do về đường chỉ trích và chính trị riêng mình”. Đó là nguyên tắc quan trọng nhất, nền tảng cho sự liên hợp đấu tranh giữa Đảng Cộng sản và các tổ chức chính trị khác. Ngoài ra, Đảng cũng chỉ rõ, chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất này không phải vĩnh viễn mà “tùy điều kiện hiện thực, tùy trình độ cách mạng của các đảng phái khác”. Đảng đặc biệt lưu ý các đảng viên tránh mọi biểu hiện của tình trạng tả khuynh hoặc hữu khuynh trong quá trình thành lập và hoạt động của mặt trận thống nhất.[14]
Tuy nhiên, trong điều kiện một đảng cách mạng non trẻ, hoạt động bí mật tại một nước thuộc địa, lại vừa trải qua một thời kỳ khủng hoảng kéo dài do bị khủng bố, nên việc triển khai, vận dụng những chủ trương mới không phải dễ dàng. Trong nội bộ đảng, đã có những đảng viên băn khoăn về chủ trương hợp tác với các đảng phái khác, e ngại Đảng cộng sản sẽ bị biến thành các đảng quốc gia. Trả lời cho những băn khoăn chính đáng này, trong văn kiện quan trọng Chung quanh vấn đề chiến sách mới, những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương đã phân tích rõ, “trong khi trình độ tranh đấu của quần chúng chưa tới trình độ cao, những yêu cầu của quần chúng có nhiều điều giống với điều yêu cầu của tư bản bản xứ, thì tại sao chúng ta không lấy những điều đó làm điều kiện để hiệu triệu tất cả các giai cấp, các đảng phái trong một dân tộc bị áp bức ra tranh đấu”. Mặt khác, do Đảng Cộng sản Đông Dương đã được bồi dưỡng tinh thần quốc tế, nên có thể khẳng định “Đảng không sợ Đảng chúng ta sẽ biến thành Đảng quốc gia” đồng thời khẳng định chủ trương hợp tác với các đảng phái quốc gia “không trái nguyên tắc dân tộc tự quyết của Quốc tế Cộng sản, không trái với quyền lợi của vô sản giai cấp… Đảng không bao giờ bỏ chính sách giai cấp tranh đấu”.[15]
Trên thực tế, chủ trương hợp tác cùng các đảng phái tiến tới thành lập mặt trận dân chủ thống nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương đã khá thành công. Trong báo cáo gửi Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản (ngày 5/4/1938), Đảng Cộng sản Đông Dương cho biết: tại Bắc Kỳ, Đảng Xã hội đã cùng các nhóm cộng sản công khai và các nhóm chính trị cấp tiến ký một chương trình hành động tối thiểu để thành lập Mặt trận bình dân trong cuộc tuyển cử Viện Dân biểu Bắc Kỳ. Tại Trung Kỳ, các phần tử tiên tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản không có đảng phái gì, nhưng nhờ Đảng Cộng sản khôn khéo liên lạc với họ mà phái cấp tiến đã chiếm được 18 ghế trong cuộc bầu cử Viện dân biểu Trung Kỳ, nhờ đó mà phái đa số trong Viện dân biểu là do Đảng chỉ đạo. Duy chỉ có Nam Kỳ là Đảng Cộng sản gặp nhiều khó khăn do sự chống phá của nhóm Tờrốtxkít, các đảng phái còn lại hoặc thân thiết với Tờrốtkít, hoặc dè dặt trong đấu tranh.[16] Do đó, song song với việc lôi kéo, kêu gọi hợp tác với các đảng phái khác, cuộc đấu tranh chống lại các tổ chức phản động cũng là một nhiệm vụ chính trị cấp bách đặt ra cho Đảng Cộng sản Đông Dương.
3. Đảng Cộng sản Đông Dương đấu tranh chống lại các đảng phái phản động.
Liên hiệp với tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt giai cấp, đảng phái, tôn giáo, dân tộc vào một Mặt trận dân chủ thống nhất, để chống lại chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, vì tự do, cơm áo, hòa bình là chủ trương lớn của Đảng Cộng sản Đông Dương trong toàn bộ thời kỳ 1936-1939. Tuy nhiên, đó là sự liên hiệp có nguyên tắc, có giới hạn với những đảng phái cách mạng hoặc cải lương và “người cộng sản không thể liên minh với những tổ chức phát xít, những tổ chức làm tay sai cho phát xít, cho phản động thuộc địa, dù của người Pháp hay người bản xứ”.[17]
Ở Việt Nam, do đặc thù của một xứ thuộc địa, nên phong trào phát xít không phát triển mạnh như các nước châu Âu, song lại theo những đường lối và hình thức khác, không thể coi thường. Đảng Cộng sản Đông Dương đã nhận thấy Đảng trật tự xã hội của quan năm Sée và Darles là tổ chức mang màu sắc phát xít cần đấu tranh dù cũng nhận ra “tổ chức của chúng sơ sài, hoạt động không kịch liệt”[18]. Ngoài ra, những phần tử phong kiến, địa chủ và tư sản phản động nhất như Phạm Lê Bổng chủ trương thành lập Đảng bảo hoàng (hay có thể là một đảng có tên gọi gì khác) để làm tay sai cho đế quốc, xin tăng quyền lợi cho giai cấp phong kiến, đàn áp phong trào cách mạng của quần chúng cũng đã được Đảng Cộng sản nhận diện. Đối với Đảng Lập hiến, Đảng Cộng sản Đông Dương có chủ trương phân biệt từng phe phái để đưa ra những đối sách phù hợp. Đối với những lãnh tụ phản động như Bùi Quang Chiêu, Lê Quang Liêm thì cần được coi là đối tượng của cách mạng. Đối với những lãnh tụ lập hiến có xu hướng cải lương tiến bộ như Nguyễn Phan Long thì chỉ trích để họ nhận ra những sai lầm của họ, thúc giục họ hành động như những lời tuyên bố và lôi kéo họ về phe Mặt trận dân chủ. Đối với từng lớp địa chủ và tư sản bản xứ có xu hướng lập hiến thì phải chỉ cho họ rõ thái độ phản động hoặc hèn nhát của những lãnh tụ Đảng Lập hiến, khuyến khích họ thống nhất hành động với các tầng lớp nhân dân. Điều cốt lõi trong đấu tranh với các đảng phái phản động như lời đồng chí Nguyễn Văn Cừ trong tác phẩm nổi tiếng có giá trị tổng kết lý luận và thực tiễn cách mạng trong những năm 1936-1939 - Tự chỉ trích là phải “phân biệt kẻ thù nguy hiểm ít với kẻ thù nguy hiểm nhiều… cốt lợi dụng mâu thuẫn trong dinh lũy quân thù tập trung mũi nhọn chống kẻ thù nguy hiểm hơn hết để dự bị lực lượng cho cách mệnh”[19]. Trên nhiều phương diện, trong những năm 1936-1939, đối với cách mạng Việt Nam nói chung, với Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng, nhóm Tờrốtkít là một kẻ thù nguy hiểm.
Trong giai đoạn này, nhóm Tờrốtkít là lực lượng chính trị duy nhất có khả năng thách thức vị trí lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nhóm Tờrốtxkít Việt Nam, về cơ bản xuất thân từ những thanh niên trí thức học tập tại Pháp những năm 20-30 của thế kỷ XX, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Tờrốtxkít và ra nhập nhóm Tờrốtkít tại Pháp - nhóm Tả Đối Lập (Opposition de Gauche). Sau cuộc biểu tình phản đối Pháp đàn áp những người tham gia khởi nghĩa Yên Bái, hầu hết họ bị trục xuất về Việt Nam, hợp tác với những người cộng sản, thường được gọi chung là nhóm La Lutte (Tranh đấu) - gắn liền với tên tờ báo của nhóm. Năm 1937, mâu thuẫn giữa những người Cộng sản và Tờrốtxkít ở Liên Xô cũng như trên thế giới lên đến đỉnh điểm. Sự hợp tác giữa những người Cộng sản và Trotkyist trong nhóm La Lutte cũng chấm dứt. La Lutte từ chỗ là diễn đàn chung đã trở thành tờ báo của Tờrốtxkít. Thắng lợi trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ quận 2 ngày 16/4/1939 được xem như đỉnh cao nhất trong sự phát triển và mở rộng ảnh hưởng của nhóm Tờrốtkít Việt Nam. Sở dĩ nhóm Tờrốtkít có thể khuếch trương ảnh hưởng ở Nam Kỳ vì vì những khẩu hiệu cực tả của nhóm trong một thời điểm nhất định có sức hút đối với một bộ phận quần chúng không có sự hiểu biết sâu sắc về chính trị (Ví dụ: “Ngày làm việc 7 giờ rưỡi” so với “Ngày làm việc 8 giờ” của những người Cộng sản, “Mặt trận vô sản”, “Mặt trận công nông” thay vì “Mặt trận dân chủ nhân dân” của những người Cộng sản v.v…). Mặt khác, không thể phủ nhận, các nhóm  Tờrốtkít đều do một số trí thức Tây học trẻ, có kiến thức, có uy tín khá lớn trong các tầng lớp dân chúng. Hơn thế nữa, từ khoảng năm 1937 trở đi, khi nhận thấy mối nguy hại của Tờrốtxkít đối với quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và đối với cuộc vận động dân chủ nói chung, chính quyền Pháp có xu hướng dung dưỡng các nhóm Tờrốtxkít (trừ một vài lần bắt giam Tạ Thu Thâu). Ngoài ra, trong giai đoạn đầu, Đảng Cộng sản Đông Dương phần nào chủ quan, coi nhẹ cuộc đấu tranh chống lại ảnh hưởng của nhóm Tờrốtxkít làm cho nhóm này càng có cơ hội mở rộng ảnh hưởng của mình.
Về bản chất, không nên coi những người Tờrốtkít Đông Dương là “tay chân của phát xít” như một số tài liệu có tính chất tuyên truyền xuất hiện giai đoạn này, nhưng cũng không thể coi nhẹ tính chất nguy hại của chủ nghĩa Tờrốtxkít. Tờrốtxkít nguy hại ở chỗ, nó là sự vay mượn hoàn toàn một học thuyết từ bên ngoài (mà bản thân học thuyết ấy đã mang trong lòng nó nhiều khiếm khuyết và sai lầm) vào điều kiện cụ thể của nước ta. Những chủ trương của Tờrốtxkít như những người Cộng sản Đông Dương nhận thấy, chỉ là nêu khẩu hiệu cách mạng cho “sướng miệng” chứ không thể đưa cách mạng đến thành công. Đặc biệt hơn, kể từ khi quan hệ cộng tác giữa những người cộng sản và Tờrốtxkít trong nhóm La Lutte tan rã, Tờrốtxkít dường như coi Đảng Cộng sản Đông Dương là đối tượng chính trị phải loại bỏ chứ không phải là chủ nghĩa phát xít hay thực dân Pháp. Nếu những người cộng sản đưa ra một khẩu hiệu hoặc một chủ trương nào đó thì họ lập tức đưa ra một khẩu hiệu/chủ trương đối lập.
Từ năm 1937, Đảng Cộng sản Đông Dương phải bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt với nhóm Tờrốtxkít. Đó là cuộc đấu tranh từ chỗ bí mật đã trở nên công khai, rộng rãi trên mặt báo, trên các diễn đàn, ở các cuộc mít tinh và biểu tình và các cuộc vận động bầu cử, bao gồm cả về lý luận và tổ chức, liên quan đến hầu hết các vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng trong nước cũng như những vấn đề chung của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Trong năm 1937, Hà Huy Tập, với bút danh Thanh Hương trong tác phẩmTrotsky và phản cách mạng do Tiền Phong thơ xã ấn hành, mặc dù đã nhận thức chủ nghĩa Tờrốtxkít trong quá trình tiến hóa đã không còn là một xu hướng chính trị của giai cấp thợ thuyền mà đã biến tướng thành “bọn phá hoại”, nhưng vẫn giữ thái độ đầy thiện chí đối với những người Tờrốtxkít Đông Dương. Câu cuối cùng trong tác phẩm này, Hà Huy Tập đã nêu cao một thái độ đầy thiện chí “Chúng ta chân thật hy vọng rằng các đảng viên và quần chúng Tờrốtxkít hãy tỉnh ngộ”[20]. Thế nhưng, trước những hành động vu cáo của nhóm Tờrốtkít, Hà Huy Tập - với tư cách một nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Đông Dương đã viết một loạt tác phẩm với nhiều bút danh khác nhau do để bảo vệ quyền lợi chính trị của Đảng. Trong Nghị quyết của toàn thể Hội nghị của Ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương  nhấn mạnh đến một nhiệm vụ chính trị quan trọng là “Tranh đấu chống lại bọn khiêu khích tờrốtkít”, trong đó cần phải chú trọng hơn nữa công tác đấu tranh với nhóm Tờrốtxkít trên báo chí công khai, tiếp xúc với quần chúng nhân dân để làm cho họ hiểu rõ bản chất của những người Tờrốtxkít, nghiên cứu kỹ sự khác nhau giữa chủ nghĩa Trotsky và chủ nghĩa Mác - Lênin, tẩy sạch những phần tử Tờrốtkít lọt vào trong Đảng[21].
Sau thất bại trước nhóm Tờrốtkít trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ tại quận 2 năm 1939, nhiệm vụ đấu tranh chống Tờrốtkít trong Đảng càng đặt ra gay gắt.Trong Tự chỉ trích xuất bản năm 1939, đồng chí Nguyễn Văn Cừ dành một mục để bàn về Đừng khinh thường nạn Tờrốtxkít trong đó chỉ rõ sai lầm của một số đồng chí ta là coi thường tầm ảnh hưởng của Tờrốtxkít, kêu gọi đồng chí không vì thất bại (trong cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ tại quận 2 năm 1939) mà hoảng hốt bi quan nhưng cần phải can đảm “mở to mắt ra nhìn sự thật”: “Bọn tờrốtkít, xét đễn cốt tủy của chúng thì chúng chỉ gồm những cặn bã của phong trào nhóm họp nhau để chống cộng sản, chống cách mệnh, chia rẽ và phá hoại phong trào quần chúng”[22]. Cuộc đấu tranh tư tưởng và chính trị chống lại Tờrốtxkít trở thành một nhiệm vụ chính trị có tính chất sống còn đối với Đảng Cộng sản Đông Dương. Bằng những nỗ lực (dù có phần hơi chậm trễ) của mình, Đảng đã từng bước đẩy lùi, chặn đứng ảnh hưởng của chủ nghĩa Tờrốtxkít và góp phần vào thắng lợi chung của cuộc vận động dân chủ trong những năm 1936-1939.
Như vậy, ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám tồn tại khá nhiều đảng phái với nhiều quan điểm, thái độ, khả năng chính trị khác nhau. Ứng xử với các đảng phái chính trị ấy như thế nào để vừa phát huy được lòng yêu nước, trí tuệ của các thành phần cấp tiến trong xã hội, tăng cường khối đoàn kết toàn dân vừa đấu tranh chống lại các thế lực phản động là bài toán có ý nghĩa sống còn đối vận mệnh chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương. Chính trong những năm tháng sôi động của cuộc vận động vì các quyền dân sinh, dân chủ 1936-1939, Đảng đã tìm ra được lời giải cho bài toán đó bằng một chính sách hợp lý: vừa hợp tác vừa đấu tranh với các đảng phái chính trị khác. Trong thực tiễn cách mạng, không tranh khỏi một bộ phận đảng viên mắc phải những sai lầm có tính chất tả khuynh (xa rời quần chúng, cô độc, biệt phái) hoặc hữu khuynh (hợp tác và thỏa hiệp vô nguyên tắc) nhưng đều được Đảng chỉnh đốn và kịp thời khắc phục. Nhờ đó, Đảng Cộng sản Đông Dương không những phục hồi và củng cố được tổ chức đảng trên toàn quốc mà còn trưởng thành vượt bậc cả về tư duy lý luận, hệ thống tổ chức, khả năng vận động quần chúng v.v…, khẳng định được vị trí lãnh tụ không thể thay thế không chỉ của quần chúng công nông mà còn của toàn dân tộc trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và dân chủ. Hơn nữa, những bài học sâu sắc về hình thành và tổ chức mặt trận thống nhất, về lợi dụng mâu thuẫn để phân hóa kẻ thù… còn trở thành những hành trang quý giá đối với Đảng Cộng sản Đông Dương trong những thời kỳ lịch sử sau.

Bài viết đăng trong Tạp chí Lịch sử Đảng, số 287, tháng 10/2014.


________________________________________
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 636.
[2] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 636.
[3] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 524-525.
[4] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 525.
[5] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 344.
[6] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 527.
[7] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 528.
[8] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 528-529.
[9] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 5279.
[10]Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 80.
[11] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 9.
[12] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 9.
[13] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 10.
[14] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 42-43.
[15] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 145-147.
[16]Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 379-382.
[17] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 630.
[18] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 631.
[19] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6 (1936-1939), đã dẫn, tr. 643.
[20] Hà Huy Tập - Một số tác phẩm, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 599.
[21] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, đã dẫn, tr.364.
[22] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 6, đã dẫn, tr. 627-628.

Ngày 15 tháng 02 năm 2015

Chúc mừng năm mới!

Nhân dịp năm mới Ất Mùi - 2015, kính chúc quý Thầy/Cô, các đồng nghiệp, các bạn sinh viên cùng gia đình một năm mới nhiều sức khỏe, bình an và hạnh phúc!